Nước chảy qua mười hai khúc sông, khúc nào cũng là nước ấy, chỉ có lòng sông đổi.
Lá số một đời không đổi. Cung mà nó soi vào thì mỗi tháng một khác.
Trăng tròn rồi khuyết, mười hai lần thì cạn một năm.
Lá số dựng từ giờ, ngày, tháng, năm sinh thì cố định suốt một đời. Nhưng trên nền lá số ấy có ba lớp vận chuyển động: đại hạn mười năm một bước, tiểu hạn mỗi năm một cung, và nguyệt hạn mỗi tháng âm lại dời sang một cung mới.
Cung nào được nguyệt hạn dừng lại thì tháng ấy mang việc của cung ấy. Mười hai tháng đi trọn một vòng, cho nên năm nào cũng có tháng để tiến và tháng để lặng. Không ai được cả mười hai, cũng không ai mất cả mười hai.
Mười hai cung như mười hai gian nhà, gian nào cũng có việc của gian ấy.
| Cung | Chủ về | Cung | Chủ về |
|---|---|---|---|
| Mệnh | Bản thân, quyết định lớn | Thiên Di | Đi lại, môi trường ngoài |
| Phụ Mẫu | Người trên, giấy tờ | Tật Ách | Nhịp sinh hoạt, tải việc |
| Phúc Đức | Nền tảng, họ hàng | Tài Bạch | Tiền bạc, dòng tiền |
| Điền Trạch | Nhà cửa, tài sản | Tử Tức | Con cái, sản phẩm |
| Quan Lộc | Công việc, chức trách | Phu Thê | Tình cảm, bạn đời |
| Nô Bộc | Đối tác, người làm cùng | Huynh Đệ | Anh em, người góp vốn |
Bản đồ vẽ cả non nước, còn người đi đường chỉ cần biết khúc ngay trước mặt.
Một lá số có nhiều lớp, và mỗi lớp trả lời một câu khác nhau. Lá số gốc nói người ấy là người thế nào, đó là chuyện của cả một đời. Đại hạn mười năm một bước, nói chặng đường này nặng về mảng nào. Lưu niên một năm một cung, nói năm nay nghiêng về đâu. Nguyệt hạn thì mỗi tháng âm một cung, và đây là lớp gần tay nhất.
Chỗ khác nhau không nằm ở đúng hay sai, mà ở chỗ dùng được tới đâu. Biết cả đời mình hợp nghề gì thì quý, nhưng sáng mai xếp lịch họp vẫn phải tự xếp. Lớp càng ngắn thì lời càng cụ thể, mà lời cụ thể mới cầm ra làm được việc.
| Lớp | Một bước là bao lâu | Trả lời câu gì | Dùng vào việc gì |
|---|---|---|---|
| Lá số gốc | Một đời, không đổi | Mình là người thế nào | Hiểu mình, chọn đường dài |
| Đại hạn | Mười năm | Chặng này nặng về mảng nào | Chọn nghề, chọn hướng đi |
| Lưu niên | Một năm | Năm nay nghiêng về đâu | Đặt kế hoạch cả năm |
| Nguyệt hạn | Một tháng âm | Tháng này nên đẩy hay nên giữ | Xếp việc trong tháng |
| Ngày theo tuổi | Một ngày | Ngày nào nên chậm tay | Chọn ngày ký kết, ngày đi xa |
Trang này chọn đứng ở lớp tháng, và nói rõ là chỉ đứng ở đó.
Lời nói suông thì gió cuốn đi. Lời có việc, có ngày, thì cầm được trong tay.
Mỗi tháng nhận đúng một phiếu, gồm bốn phần: chủ đề của tháng, việc nên làm, việc nên kiêng, và những ngày trong tháng nên chậm tay. Hai phiếu dưới đây sinh từ một lá số có thật, giữ nguyên văn, không sửa cho đẹp.
Tháng chín âm
Nguyệt hạn vào cung Tài Bạch, tháng thuận
Nên
Thu hồi công nợ, chốt đơn, đàm phán giá, mở dòng tiền mới
Kiêng
Vay để xoay, đầu tư theo lời rủ, ứng tiền trước cho người mới quen
Ngày nên chậm tay: 15/10 · 27/10 · 8/11
Tháng chạp
Nguyệt hạn vào cung Huynh Đệ, tháng nên giữ
Nên
Làm rõ tiền bạc bằng giấy trắng mực đen
Kiêng
Góp vốn miệng, chia phần theo tình cảm, để tiền treo qua tháng
Ngày nên chậm tay: 19/1 · 31/1
Cùng một ngày, người này thuận chân, người kia vấp gót. Ngày không tốt xấu chung cho tất cả.
Lịch treo tường ghi ngày hoàng đạo hắc đạo là ghi chung cho mọi người, ai đọc cũng thấy giống nhau. Ở đây không tính như vậy. Ngày được xét theo quan hệ giữa chi của ngày ấy với chi năm sinh của chính bạn, cho nên hai người khác tuổi mở cùng một tháng sẽ thấy hai bảng ngày khác nhau.
Bốn quan hệ được dùng là tam hợp, lục hợp, lục hại và lục xung, đều là quan hệ cũ trong phép xem ngày theo tuổi. Ngày không rơi vào quan hệ nào thì để là ngày bình, không tô vẽ thêm.
| Quan hệ | Nghĩa | Xếp thành |
|---|---|---|
| Tam hợp | Ba chi cùng một cục, kéo nhau cùng đi | Ngày thuận |
| Lục hợp | Hai chi kết đôi, việc dễ xuôi | Ngày thuận |
| Lục hại | Hai chi ngầm khắc, hay lỡ nhịp | Ngày nên dè chừng |
| Lục xung | Hai chi đối thẳng nhau qua vòng | Ngày nên dời việc lớn |
| Không quan hệ | Chi ngày không dính gì tới chi tuổi | Ngày bình |
Ngày lục xung không phải ngày xấu tuyệt đối. Nó là ngày nên tránh xếp việc quyết định lớn, ký kết, hoặc đi xa gấp, còn việc thường thì vẫn làm.
Thiếu một chữ trong bốn chữ, cả bài đọc lệch.
Nói thật là khó. Trong bốn khoản giờ, ngày, tháng, năm thì giờ sinh là khoản định vị trí cung Mệnh. Sai giờ một canh là cung Mệnh dời một cung, mà Mệnh đã dời thì mười hai cung dời theo, nguyệt hạn từng tháng cũng dời theo nốt. Lời nhắc vẫn ra, nhưng ra của một người khác.
Cho nên chỗ này chúng tôi không đoán bù. Việc nên làm trước là hỏi lại người nhà, tìm giấy chứng sinh hoặc sổ khám thai cũ, phần lớn trường hợp còn tra ra được. Nếu thật sự không còn cách nào, có thể chọn hai hoặc ba giờ gần nhất rồi lấy từng giờ soi lại vài năm đã qua, xem lời của giờ nào khớp với chuyện thật đã xảy ra. Đó không phải phép an sao, đó là cách loại trừ, và phải biết mình đang loại trừ chứ không phải đang xem số.
Ba lối cùng dẫn lên một núi, nhưng người dẫn đường phải nói rõ mình đi lối nào.
Sách xưa không thống nhất chỗ này. Có ba cách an nguyệt hạn còn lưu hành, khác nhau ở chỗ đặt cung tháng Giêng. Đặt khác một cung là cả mười hai tháng lệch theo, cho nên hai trang tử vi cùng nhận một ngày sinh mà cho hai lời khác nhau thì phần nhiều là vì chỗ này, không phải vì ai đó tính sai.
Bản này dùng cách phổ biến nhất, và chép nguyên bốn bước ở dưới để ai muốn tự an lại đều an được. Hai cách còn lại chúng tôi có giữ để đối chiếu, nhưng không đặt làm mặc định, và không trộn lẫn giữa các cách trong cùng một lá số.
| Bước | Làm gì |
|---|---|
| Một | Lấy cung tiểu hạn của năm đang xem, kể cung ấy là tháng Giêng |
| Hai | Từ đó đếm nghịch cho tới tháng sinh, dừng lại ở một cung |
| Ba | Kể cung vừa dừng là giờ Tý, đếm thuận cho tới giờ sinh |
| Bốn | Cung dừng lần này là nguyệt hạn tháng Giêng; các tháng sau đi thuận, mỗi tháng một cung |
Tiểu hạn thì nam đi thuận, nữ đi nghịch, tính theo giới tính chứ không theo chiều của đại hạn. Hai chỗ này dễ lẫn nhau, và lẫn một lần là sai cả năm.
Một quyển thì tin một nửa, ba quyển đặt cạnh nhau mới thấy chỗ lệch.
Không có quyển sách nào một mình đủ. Sách chép tay qua nhiều đời thì tam sao thất bản, sách mới thì lắm chỗ suy diễn, mà bảng an sao lưu hành trên mạng thì chép lại của nhau, sai một chỗ là sai cả loạt. Cho nên chúng tôi không lấy một nguồn làm chuẩn, mà đặt các nguồn cạnh nhau, chỗ nào chúng nói giống nhau thì yên tâm, chỗ nào chúng nói khác nhau thì dừng lại tra cho ra lẽ.
Dưới đây là những gì đã đem ra khảo, ghi rõ để ai muốn xét lại đều xét được. Chỗ nào chưa khảo tới, chúng tôi ghi thẳng là chưa khảo tới.
| Nguồn | Dùng vào việc gì | Đã khảo |
|---|---|---|
| Sách cụ Thiên Lương | Lối an sao gốc, phép an tứ hoá, chiều đại hạn | Rồi |
| Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư | Câu phú để phân xử khi các sách bất đồng | Rồi |
| Lịch Việt Nam | Đổi ngày dương sang ngày âm, múi giờ UTC+7 | Rồi |
| Ba lối an nguyệt hạn | Chọn một lối và công bố rõ đang dùng lối nào | Rồi |
| Bảng an sao lưu hành | Đối chiếu để tìm chỗ chép lệch | Rồi |
| Người trong nghề | Soi lại lá số và lời luận | Chưa, đang mời |
Dòng cuối trong bảng chưa làm được thì để nguyên là chưa làm được. Một sổ khảo có chỗ bỏ trống đáng tin hơn một sổ chỗ nào cũng đầy.
Cân lệch một ly, gạo sai một đấu.
Tử vi đi tới đời nay qua sách chép tay. Mỗi phái một lối an sao, mỗi đời thêm một lời chú, đến chỗ các sách nói khác nhau thì người sau đành chọn một đường mà theo. Cùng một giờ sinh, hai lối an có thể cho ra hai lá số không giống nhau, mà người đến xem thì chẳng có cách nào tự biết mình đang cầm lá số nào.
Vậy nên chỗ đứng phải nói rõ ngay từ đầu, không giấu trong lời luận. Phép an sao ở đây theo lối Việt Nam, lấy sách của cụ Thiên Lương làm gốc. Chỗ nào các sách bất đồng thì đem câu phú trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư ra đối chiếu, và giữ đúng chữ của câu phú chứ không giữ theo thói quen. Lịch âm thì lấy lịch Việt Nam làm chuẩn, không mượn lịch phương Bắc, bởi chênh nhau một múi giờ là có ngày rơi sang tháng khác, mà tháng đã lệch thì cả lá số lệch theo.
Còn phép tính thì chúng tôi không dám tin vào một lần làm. Mỗi lá số đều được tính lại một lần nữa theo lối riêng, rồi hai bản đặt cạnh nhau soi từng cung, từng sao, cho tới khi không còn một nét lệch. Chỗ nào chưa soi tới thì nói thẳng là chưa soi tới, không nói cho xuôi tai.
| Khoản | Theo đâu |
|---|---|
| Lối an sao | Phái Việt Nam, lấy sách của cụ Thiên Lương làm gốc |
| Chỗ sách bất đồng | Đối chiếu câu phú trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư |
| Lịch âm | Lịch Việt Nam, múi giờ UTC+7, thuật toán Hồ Ngọc Đức |
| Cách an nguyệt hạn | Ba cách lưu hành, bản này dùng cách phổ biến nhất và nói rõ đang dùng cách nào |
| Phép đo | Số lượng | Kết quả |
|---|---|---|
| Lá số đem ra khảo lại | 607 | 607 / 607 khớp |
| Lượt lời nhắc tháng khảo lại | 4.800 | 4.800 / 4.800 khớp |
| Nét lệch còn sót trên mọi cung | 0 | Không có |
| Lịch âm | — | Hồ Ngọc Đức, múi giờ UTC+7 |
Chép đi chép lại nhiều đời, một nét sai cũng thành lệ.
Có. Khảo lại từng phép an sao, chúng tôi gặp hai chỗ mà bảng lưu hành lâu nay chép lệch so với sách gốc. Đây là loại sai âm thầm nhất, vì nó nằm trong bảng chứ không nằm trong lời, ai chép lại cũng chép nguyên, và người xem thì không có cách nào biết.
Chúng tôi không tự tiện sửa. Cả hai chỗ đều đem câu phú và thứ tự gốc ra đối chiếu trước, sửa xong thì ghi lại kèm căn cứ, để sau này ai muốn xét lại đều xét được, và để chính chúng tôi không lặp lại.
| Lỗi | Biểu hiện | Căn cứ |
|---|---|---|
| Vòng Trường Sinh | Hai sao Thai và Dưỡng bị hoán đổi vị trí cho nhau | Thứ tự mười hai bước của vòng |
| Bảng Thiên Khôi | Bốn can Đinh, Mậu, Canh, Nhâm bị điền nhầm vị trí của Thiên Việt | Câu phú trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư |
Lời nói về ngày mai thì không ai cãi được. Lời nói về năm ngoái thì cãi được ngay.
Đây là chỗ mà phần lớn trang tử vi tránh nói, vì nói ra là tự đặt mình vào thế bị chấm điểm. Chúng tôi làm ngược lại: mở sẵn đường để bạn chấm.
Bạn chọn một năm đã qua, đọc lời nhắc của từng tháng năm ấy, rồi đánh dấu tháng nào nói trúng, tháng nào nói trật. Mọi mốc đã đánh dấu được giữ lại thành một dòng thời gian, kèm nguyên lời đã nhắc, để càng về sau càng đối chiếu được dày hơn. Dòng ấy nằm trong máy của bạn, không gửi đi đâu.
Thước đo thì chúng tôi đặt trước khi xem kết quả, không đặt sau. Đặt sau là uốn thước theo kết quả.
| Khoản | Đặt trước | Hiện nay |
|---|---|---|
| Số người thật | Ít nhất 20 người đánh dấu lá số của chính mình | Chưa đủ, đang mời |
| Mức đạt | Từ 60% trở lên chọn trúng hoặc trúng một phần | Chưa có kết quả |
| Nếu không đạt | Sửa lời luận, không thêm tính năng cho khoả lấp | — |
| Cách đo | Tự chọn năm đã qua, đọc rồi đánh dấu, không nói trước tốt xấu | Đã chạy được |
Chừng nào chưa đủ người, chúng tôi không nói bản này trúng bao nhiêu phần trăm. Một con số đẹp mà chưa đo được thì chỉ là lời quảng cáo.
Ngày sinh là chuyện riêng. Riêng thì nên để yên chỗ của nó.
Nói ngắn: lá số tính ngay trên máy bạn, không cần tài khoản, và ngày tháng sinh không được gửi đi đâu.
Biết dừng cũng là một phép. Người xưa xem số để liệu đường mà đi, không xem để buông tay ngồi đợi.
Có những cửa mà một lời đoán bước vào là thành ra làm hại. Người đang nơm nớp lo bệnh, nghe một câu nặng thì đêm ấy mất ngủ, mất ngủ thì hôm sau hỏng việc, rồi lại quay ra đổ cho số. Cho nên bốn chỗ dưới đây, dù có ai hỏi tới, chúng tôi cũng xin đứng ngoài.
Nhập ngày sinh một lần, rồi đi trọn mười hai khúc của năm nay.
Không cần tài khoản. Lá số tính ngay trên máy của bạn.
Lập lá số